Phát triển tài chính toàn diện hướng tới ổn định tài chính tại Việt Nam
Ngày nhập : 20/09/2021 16:28
 
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nguy cơ rủi ro của hệ thống tài chính đã cho thấy, ổn định tài chính đóng vai trò quan trọng đảm bảo khả năng vận hành tốt các chức năng chính của hệ thống tài chính nhằm giúp phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn lực. Bên cạnh đó, ổn định tài chính nhằm giúp cho các chủ thể trong hệ thống tài chính tiếp cận được với các dịch vụ tài chính một cách thuận tiện, dễ dàng, tức là hỗ trợ cho phát triển tài chính toàn diện.

Theo báo cáo Tài chính toàn diện G20 (2015) cho thấy, hầu hết tại các nước đang phát triển, chỉ có từ 20% đến 50% dân số được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, người nghèo và cận nghèo nằm ngoài khu vực này. Bài viết xem xét phát triển tài chính toàn diện và tác động tới ổn định tài chính nhằm đề xuất kiến nghị phát triển tài chính toàn diện hướng tới ổn định tài chính tại Việt Nam…

Mức độ phát triển tài chính toàn diện ảnh hưởng đến ổn định tài chính tại Việt Nam

Ở Việt Nam, thời gian qua, Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách liên quan đến Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia như: Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 (Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế (Quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ). Đặc biệt, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt năm 2020 (Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ). Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam gia nhập đội ngũ những nước có thu nhập trung bình của thế giới từ năm 2010 và thu nhập bình quân đầu người khoảng 2.750 USD năm 2020. Cùng với đó là công cuộc xóa đói giảm nghèo đáng ghi nhận, theo chuẩn của WB, tỷ lệ nghèo từ mức 60% giảm xuống 20,7% trong vòng 10 năm (1990 - 2010), năm 2020, tỷ lệ nghèo giảm từ 3,75% năm 2019 xuống dưới 3%, bình quân giảm 1 - 1,5%/năm trong 10 năm (2010 - 2020). Mức độ phát triển của tài chính toàn diện góp phần ổn định tài chính, thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, mức độ bao phủ của các tổ chức tín dụng (TCTD) rộng, chất lượng tài sản của các TCTD được cải thiện, góp phần ổn định hệ thống ngân hàng. Việc mở rộng độ bao phủ của các TCTD cũng như dịch vụ tài chính là tín hiệu tích cực cho thấy các biện pháp thúc đẩy tài chính toàn diện đã phát huy tác dụng đem lại sự ổn định của hệ thống tài chính. Bên cạnh mức độ tăng nhanh về số lượng của các TCTD, chất lượng tài sản của hệ thống các TCTD được cải thiện, việc tái cơ cấu hệ thống các TCTD và xử lý nợ xấu đã được quyết liệt thực hiện. Do đó, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống có xu hướng giảm liên tục qua các năm (Hình 1). Mặc dù năm 2019, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, khiến tỷ lệ nợ xấu của các TCTD có xu hướng tăng lên nhưng vẫn được kiểm soát dưới 3%, thực tế cho thấy, nguồn gốc của các khoản nợ xấu này phần lớn đến từ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nên sẽ dễ dàng phục hồi hơn là nợ xấu đến từ những lĩnh vực tạo bong bóng như những giai đoạn trước. Điều này cho thấy, mức độ ổn định tài chính được đem lại ngay từ sự ổn định trong hệ thống TCTD.

Thứ hai, mức độ mở rộng của đơn vị cung cấp dịch vụ và sản phẩm, dịch vụ an toàn đem lại tiện ích cho khách hàng. Theo WB, việc xem xét số chi nhánh ngân hàng và số lượng ATM so với 100.000 người trưởng thành là một chỉ tiêu đánh giá độ rộng trong cung ứng các dịch vụ của TCTD, các chỉ tiêu này cho thấy mức độ bao phủ của các TCTD đến các vùng dân cư trong một quốc gia cũng như khả năng cung ứng các dịch vụ tài chính đối với các tầng lớp dân cư. Điều này không chỉ thể hiện sự gia tăng mạnh mẽ trong phát triển tài chính toàn diện đối với người dân mà còn góp phần rất lớn vào sự ổn định của toàn hệ thống tài chính. Theo thống kê từ WB, số lượng chi nhánh ngân hàng và số lượng ATM trên 100.000 người trưởng thành có xu hướng được cải thiện trong những năm trở lại đây. Số lượng chi nhánh ngân hàng trên 100.000 người trưởng thành trung bình khoảng 3,5 và số lượng ATM trên 100.000 người trưởng thành là hơn 20 nghìn máy. Theo NHNN, tính đến 31/12/2020, số lượng tài khoản thanh toán của cá nhân, tổ chức tại các TCTD đạt 104,2 triệu tài khoản, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM/100.000 dân số trưởng thành tiếp tục tăng, số lượng ATM tăng 2,34% so với năm 2019. Mặc dù vậy, bắt đầu từ năm 2019, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, việc triển khai mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch truyền thống chậm lại cùng với mạng lưới chi nhánh phân bổ không đồng đều trong cả nước, việc tỷ lệ người dân trưởng thành có tài khoản ngân hàng dù đã tăng lên nhưng tốc độ tăng chậm cho thấy ảnh hưởng nhất định đến ổn định tài chính.

Từ năm 2019, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, việc mở rộng đơn vị cũng như cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính bị hạn chế. Theo báo cáo đánh giá của The Economist Intelligence Unit (2020) về mức độ phát triển tài chính toàn diện của Việt Nam, chỉ số điểm cho phát triển tài chính toàn diện giảm nhẹ so với năm 2019.

Thứ ba, mức độ phát triển tài chính toàn diện góp phần giúp hệ thống doanh nghiệp và các hộ gia đình nhanh chóng được tiếp cận với vốn vay giá rẻ và thuận tiện. Sự phát triển của tài chính toàn diện giúp cho người dân, đặc biệt là người nghèo, hệ thống doanh nghiệp trong đó có SMEs tiếp cận được nguồn vốn vay dễ dàng hơn, tăng tiết kiệm và đầu tư, thúc đẩy phát triển của nền kinh tế và ổn định tài chính. Trong giai đoạn 2010 - 2020, tình hình hoạt động của khu vực doanh nghiệp được cải thiện, chỉ sau đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp bước vào giai đoạn khó khăn do đứt chuỗi cung ứng và sản xuất nên dư nợ tín dụng đối với SMEs cuối năm 2020 chiếm tỷ trọng khoảng 20% tổng dư nợ đối với nền kinh tế. Để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, NHNN đã ban hành các cơ chế như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí thanh toán… giúp các doanh nghiệp được tiếp cận vốn vay ưu đãi của ngân hàng với lãi suất hợp lý.

Mặc dù mức độ bao phủ của hệ thống các TCTD khá lớn nhưng tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ tài chính còn khiêm tốn, người dân chưa tiếp cận được dịch vụ tài chính chính thức và có thể vẫn phải lựa chọn sử dụng các nguồn tài chính khác nhiều rủi ro hơn (Theo WB, Việt Nam có khoảng 50% dân số được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, đa số người nghèo và cận nghèo chưa tiếp cận được với các dịch vụ này). Bên cạnh đó, trong khi những người dân đô thị và các doanh nghiệp lớn được tiếp cận khá dễ dàng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp thì nhóm đối tượng dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa và SMEs gặp khó khăn hơn. Chính vì vậy, điều này cũng ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống tài chính và cuối cùng là ổn định tài chính.

Một số khuyến nghị chính sách

Xuất phát từ mục tiêu trong Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia: (i) Ít nhất 80% người trưởng thành có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác; tiến tới mục tiêu mỗi người trưởng thành có ít nhất một tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác vào năm 2030; (ii) Ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM trên 100.000 người trưởng thành; (iii)  Ít nhất 50% tổng số xã có điểm cung ứng dịch vụ tài chính (chi nhánh, phòng giao dịch của TCTD và đại lý ngân hàng); (iv) Ít nhất 25% - 30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại TCTD; (v) Ít nhất 250.000 SMEs có dư nợ tại các TCTD. Đồng thời, xem xét mức độ ảnh hưởng của phát triển tài chính toàn diện đến ổn định tài chính, bài viết đề xuất một số khuyến nghị sau:

- Xây dựng khuôn khổ pháp lý về chính sách và điều hành có hiệu quả thông qua phát triển cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ tài chính dễ tiếp cận hơn cho các doanh nghiệp và cá nhân, đảm bảo sự cạnh tranh công bằng và đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.  Qua đó, cần chú trọng vào việc rà soát, hoàn thiện các quy định và giám sát để phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính, phòng tránh các rủi ro, bảo vệ tốt hơn cho khách hàng. Đây là điều rất quan trọng để hướng tới ổn định tài chính.

- Nỗ lực nhằm phát triển lĩnh vực tài chính vi mô một cách bền vững, từng bước mở cửa thị trường tài chính vi mô, nhằm mục tiêu hỗ trợ hơn nữa cho người dân khi tiếp cận với các dịch vụ tài chính. Bên cạnh việc tiếp tục tái cơ cấu, phát triển ngân hàng vững mạnh, cần phối hợp với các cơ quan, bộ, ngành chức năng thúc đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính đến mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội.

- Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Công nghệ đang cho thấy vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện ở kỷ nguyên kỹ thuật số. Những dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ mang lại lợi thế vượt trội hơn các dịch vụ truyền thống. Khả năng của công nghệ mang dịch vụ đến cho mọi người ở bất kỳ đâu là động lực lớn nhất thúc đẩy tài chính toàn diện. Với việc cung cấp dịch vụ tài chính hiệu quả hơn, công nghệ có thể giúp dịch vụ trở thành chấp nhận được với cả những khách hàng thu nhập thấp và điều này khiến cho nhiều người sử dụng hơn. Khi không sử dụng đến tiền mặt, dịch vụ tài chính sẽ trở nên an toàn và minh bạch hơn cho các cá nhân, doanh nghiệp và cả Chính phủ. Những mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ có thể mở ra nhiều sản phẩm và phương thức phân phối mới dễ sử dụng và thêm nhiều giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ công và chi trả an sinh xã hội, đặc biệt cung cấp các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền tiện dụng và phù hợp với điều kiện vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa…

- Nâng cao giáo dục tài chính đối với người dân, nhất là phụ nữ, SMEs, doanh nghiệp siêu nhỏ… thông qua các chương trình giáo dục tài chính có thể cung cấp những kiến thức cần thiết về sản phẩm hay dịch vụ tài chính chính thức cho người dân, tạo niềm tin và sự tự tin để chủ động tiếp cận đến các sản phẩm, dịch vụ sẵn có trên thị trường chính thức. Bên cạnh đó, giáo dục tài chính giúp người tiêu dùng có khả năng so sánh và đánh giá chất lượng các loại hình sản phẩm tài chính khác nhau để lựa chọn ra sản phẩm phù hợp nhất với tình hình tài chính bản thân. Điều này đòi hỏi các tổ chức tài chính phải không ngừng cải tiến và sáng tạo các sản phẩm, dịch vụ tài chính để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng tài chính, khiến thị trường tài chính không ngừng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm và hoàn thiện hơn. Hơn nữa, nhờ giáo dục tài chính, mọi người sẽ có xu hướng tiết kiệm và quản lý ngân sách tốt hơn, giúp gia tăng nguồn lực tiết kiệm, thúc đẩy nguồn vốn đầu tư cho xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho đầu tư và tăng trưởng nền kinh tế. Giáo dục tài chính sẽ giúp cá nhân và hộ gia đình biết cách tự bảo vệ mình thông qua phát hiện và thông báo cho cơ quan quản lý những sai phạm của các tổ chức trung gian tài chính. Điều này sẽ hỗ trợ hoạt động giám sát được dễ dàng hơn và góp phần ổn định tài chính.

- Tăng cường kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất nhằm cung cấp kịp thời, đa dạng sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng tổ chức. Trên cơ sở dữ liệu sẵn có, cung cấp các chỉ tiêu thống kê về mức độ tiếp cận, sử dụng và chất lượng dịch vụ tài chính.

(Nguồn: Tạp chí Ngân hàng)